Lịch sử ra đời của các học thuyết về trí thông minh và đào tạo tư duy

Trí thông minh, khả năng tư duy luôn là đề tài thu hút rất nhiều công trình nghiên cứu, các học thuyết của các nhà khoa học trên thế giới. Những thành tựu về các công trình nghiên cứu này mở ra một chân trời mới về nhận thức cũng như sáng tạo những phương pháp mới để kích hoạt khả năng tư duy và bồi dưỡng năng lực trí tuệ cho những thế hệ tiếp nối. Sau đây là những cột mốc nổi bật về nghiên cứu trí thông minh và đạo tạo tư duy.

1905
Năm 1904, Alfred Binet cùng một nhóm các nhà tâm lý học người Pháp chuyên nghiên cứu tâm lý trẻ đã nghiên cứu thành công phương pháp nhận diện và đánh giá trí tuệ của học sinh. Công trình được giới chức giáo dục Pháp đánh giá rất cao. Sau đó, bài kiểm tra của Binet trở nên thông dụng trên khắp nước Mỹ và bùng phát mạnh vào năm 1917 – chính phủ Mỹ sử dụng bài kiểm tra này để phân loại, đánh giá và phân bổ tân binh vào các vị trí trong quân đội, trong Thế chiến thứ I.
Các bài kiểm tra của Binet nhằm kiểm tra trí thông minh đối với học sinh, qua đó ông sẽ đánh giá được năng lực tư duy và suy luận của trẻ trong nhiều lĩnh vực khác nhau
Bài kiểm tra đòi hỏi trẻ phải làm một số trắc nghiệm về khả năng làm theo hướng dẫn (following instructions), bắt chước hình mẫu (copying patterns), gọi tên đồ vật (naming objects) hoặc sắp xếp món đồ theo thứ tự và chủng loại. Tuy là cha đẻ của “chỉ số thông minh - IQ”, Binet cũng nhìn nhận rằng bài kiểm tra IQ cũng bộc lộ một số hạn chế. Ông cho rằng trí thông minh không hẳn chỉ do di truyền, bởi các gene cấu thành, mà còn do môi trường giáo – dưỡng tác động.

1974
Tony Buzan, cha đẻ của “Sơ đồ tư duy” và cũng là tác giả của cụm từ mới “Mental Literacy – Đọc hiểu năng lực trí tuệ”, có nghĩa là trình độ am hiểu về hoạt động của bộ não. Ông rất đam mê khám phá cấu trúc và chức năng hoạt động của bộ não và phát minh ra những phương pháp để “bật tín hiểu” cho bộ não. Ông thấy rằng đứa trẻ nào cũng có tiềm năng của Leonardo da Vinci và Albert Einstein và dày công nghiên cứu cách “bật tín hiệu” cho tiềm năng đó phát huy. Các nghiên cứu của Buzan cho thấy trí thông minh được phát huy hết công năng khi con cái chúng ta được nuôi dưỡng trong môi trường tốt, được khuyến khích, động viên và giáo dục đúng phương pháp.
Với bộ công cụ sơ đồ tư duy hay còn gọi là sơ đồ trí não, Buzan hướng dẫn chúng ta học phương pháp học, học cách xử lý thông tin, và học tư duy có phương pháp để rèn luyện và nâng cao năng lực tư duy, từ đó khai phá năng lực tiềm ẩn vô cùng to lớn của bộ não tạo nên sự đột phá trong học tập và công tác.
Như vậy, hành trình khám phá trí thông minh đã phát triển từ trí thông minh thiên bẩm - cái bên trong, đến khả năng học từ môi trường bên ngoài của nó. Và chiếc cầu nối chính là học và đào tạo đúng phương pháp.

1983
(Howard Gardner)
Giáo sư tâm lý Howard Gardner của trường đại học Harvard công bố thuyết “trí thông minh đa dạng - multiple intelligences”. Thuyết trí thông minh đa dạng của Howard Gardner là một trong những làn sóng đánh vào quan điểm trí tuệ tĩnh, và đưa ra một cách nhìn mới về trí thông minh. Nghiên cứu về não bộ là làn sóng thứ hai, giúp chúng ta hiểu sự phức tạp của các quá trình nhận thức, học tập và phát triển con người. Nghiên cứu về bộ não cũng chỉ ra các quá trình lọc và kiểm soát cảm xúc, dẫn tới làn sóng thứ ba là trí tuệ cảm xúc – giao tiếp và xã hội.
Thuyết của giáo sư Gardner nhận diện trí thông minh của con người có tám dạng như sau:
- Trí thông minh ngôn ngữ
- Trí thông minh logic – toán học
- Trí thông minh về không gian
- Trí thông minh về khả năng vận động thân thể
- Trí thông minh âm nhạc
- Trí thông minh tương tác, giao tiếp với người khác
- Trí thông minh nội tâm
- Trí thông minh trong lĩnh vực tự nhiên
Từng loại trí thông minh trên sẽ phát huy tốt với các chương trình đào tạo, huấn luyện tư duy phù hợp.
Theo Giáo sư Howard Gardner, trí thông minh có nghĩa là “khả năng giải quyết vấn đề và tạo ra sản phẩm hay dịch vụ có giá trị thiết thực cho xã hội”. Định nghĩa này dẫn chúng ta đến câu hỏi cho chính chúng ta: khi con cái của chúng ta “có khả năng giải quyết vấn đề” và khả năng “tạo ra” nhưng mà không có giá trị thiết thực cho xã hội thì liệu con cái chúng ta có thông minh thật không?

Sau gần một thế kỷ phát triển, ngành nghiên cứu này đã tiến những bước rất xa, theo đó khoa học đã nhận thức ra trí thông minh không chỉ đơn thuần là cái gì Trời cho ai nấy được mà còn bao gồm kết quả của học tập, rèn luyện. Và đến lúc này, trí thông minh được nhận diện không chỉ hạn hẹp trong phạm vi trí não “khô khan” mà bao gồm cả những phương diện tinh tế của con người như hệ thống tám loại trí thông minh của giáo sư Gardner gọi là “trí thông minh đa dạng”.
Vị giáo sư lâu năm và đáng kính Seymour Papert của học viện công nghệ Massachusetts (MIT) được xem là nhà toán học thiên tài. Ông là cha đẻ của Trí Thông minh nhân tạo (Artificial Intelligence) và thuyết Xây dựng Kiến thức (Constructionist Learning ). Theo ông, việc học kiến thức tốt nhất là qua hình thức học tập trải nghiệm (experiential learning), hay nói cách khác là Học thông qua Hành (learning-by-making).

Đây là tiền đề cho quá trình hình thành Trí thông minh trải nghiệm: xây dựng kiến thức mới dựa trên kinh nghiệm và kiến thức trong quá khứ, liên kết và vận dụng cả kiến thức và kinh nghiệm mới lẫn cũ. Ý tưởng trên của Giáo sư Papert được nhiều người biết đến khi ông phát hành quyển sách Mindstorms: Children, Computers, and Powerful Ideas vào năm 1980. Ông ví việc học của trẻ giống như việc trẻ được sống trên vùng đất toán học (mathland), ở nơi đó trẻ học toán một cách tự nhiên, dễ dàng như học nói tiếng Pháp khi đang sống trên đất Pháp. Công trình nghiên cứu của ông ở MIT Media Laboraotry được tập đoàn Lego (Đan Mạch) tài trợ toàn bộ kinh phí. Và đến năm 1998, Lego tung ra sản phẩm robot LEGO MINDSTORMS dựa trên công trình nghiên cứu của GS Papert và đã được ông cho phép sử dụng cụm từ “Mindstorms” theo tựa sách cùng tên của ông.

1990

Một nhà khoa bảng khác của đại học Havard, giáo sư David Perkins, chỉ ra trí thông minh có ba loại: trí thông minh nơron (neural intelligence), trí thông minh trải nghiệm (experiential intelli- gent) và trí thông minh có suy nghĩ (reflective intelligence). Trong đó, trí thông minh nơron hay còn gọi là trí thông minh thiên bẩm do di truyền và được đo bằng chỉ số IQ. Còn hai loại trí thông minh trải nghiệm và trí thông minh có suy nghĩ thì có thể đào tạo được. Trí thông minh trải nghiệm được hình thành dựa trên những kinh nghiệm rút ra được trong công việc hay trong cuộc sống. Trí thông minh suy nghĩ của một người là khả năng suy nghĩ của người đó trong những tình huống khác nhau, thậm chí những tình huống không nằm trong lĩnh vực chuyên môn của người đó.
Với trí thông minh có suy nghĩ, chúng ta có thể gia tăng khả năng giải quyết những vấn đề, ra quyết định, và đưa ra những sáng kiến mới để xây dựng thế giới phức tạp và không ngừng biến động mà chúng ta đang sinh sống.

1992

Tiến sĩ Arthur Costa, Giáo sư danh dự của đại học California State là tác giả của “thuyết thói quen của trí não- Habits of Mind”, đó là một tập hợp các hành vi và ứng xử của trí thông minh đóng một vai trò đặc biệt giúp con người trở nên sâu sắc và nhạy bén trong suy nghĩ. Thói quen tư duy này được hình thành do chúng ta thực hiện hành động lặp đi lặp lại trong suốt một quãng thời gian dài. Thói quen của trí não bao gồm cả khả năng tư duy lẫn cách cư xử của con người, chính nhờ sự phối hợp đồng bộ này mà chúng ta thành thạo trong việc vận hành khả năng tư duy và khả năng xử lý vấn đề. Như vậy, có thể thấy gieo hành động gặt thói quen, gieo thói quen gặt tính cách, một đứa bé không thể học “chớp nhoáng” vài kĩ năng thì có trí thông minh hiệu quả hơn, mà em cần được cung cấp cơ hội để rèn luyện như rèn luyện thói quen, với phương pháp và công cụ phù hợp với lứa tuổi.

(sưu tầm)


TOP